Bạn đã từng nghe đến Hội An chưa? Nơi đây được mệnh danh là thành phố cổ kính lung linh huyền ảo, là di sản văn hóa thế giới và là điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Hội An sở hữu vẻ đẹp bình yên, thơ mộng với những ngôi nhà cổ kính vàng ươm, những con đường nhỏ hẹp uốn lượn, những dòng sông êm đềm chảy qua và những chiếc đèn lồng lung linh huyền ảo. Bài viết này sẽ giới thiệu về các di tích, danh thắng nổi tiếng tại Hội An. Hãy cùng khám phá những di sản văn hóa độc đáo này nhé!
Miếu Văn Thánh Cẩm Phô Hội An
Miếu Văn Thánh Cẩm Phô được cộng đồng người Việt, cụ thể là cư dân cựu xã Cẩm Phô khởi dựng tự năm nào hiện chưa tìm ra cứ liệu chứng minh. Địa chỉ hiện tại: 32 đường Hùng Vương, khối 3, thành phố Hội An.

Miếu Văn Thánh Cẩm Phô được trùng tu lần thứ nhất vào năm 1871. Tự Đức, nhị thập tứ niên, tuế thứ Tân Mùi, trọng thu thượng hoán. Cẩm Phô xã hương quan, hương chức đồng trùng tu. Trùng tu lần thứ hai vào năm 1913. Duy Tân thất niên Quý Sửu, đồng xã cải tạo. Trùng tu lần thứ ba vào năm 1970, theo các bậc cao niên kể: “Thay tam cấp tiền đình bằng hai bậc cấp từ hai bên”. Năm 1998, có một đợt tiểu trùng tu nhưng không thấy ghi lại văn bia để thông tin cho hậu thế. Ngày xưa vào ngày 16 tháng 2 âm lịch, người dân Cẩm Phô tổ chức tế lễ Văn miếu, học trò gia lễ đi từ sân vào dâng trầm, trà, hoa, quả.
Chùa Cầu Hội An
Chùa Cầu là ngôi chùa nằm trên chiếc cầu bắc ngang qua con lạch nhỏ trong khu đô thị cổ Hội An. Chiếc cầu này được các thương nhân người Nhật xây dựng vào đầu thế kỷ 17 nên người dân nơi đây vẫn thường gọi là cầu Nhật Bản. Theo truyền thuyết, ngôi chùa được xem như một thanh kiếm đâm xuống lưng con quái vật mamazu, khiến nó không quẫy đuôi, gây ra những trận động đất. Năm 1653, người ta dựng thêm phần chùa, nối liền vào lan can phía bắc, nhô ra giữa cầu nên từ đó người dân địa phương gọi là chùa Cầu. Đây là công trình kiến trúc duy nhất được coi là có gốc tích Nhật Bản còn lại.

Nằm ở đoạn tiếp giáp đường Nguyễn Thị Minh Khai và Trần Phú, chùa Cầu có kiểu kiến trúc thật đặc biệt mang đậm nét Việt, mái ngói âm dương phủ kín cây cầu bằng gỗ dài khoảng 18m. Trên cửa chính của ngôi chùa cổ kính này có một tấm biển lớn chạm nổi ba chữ Hán là Lai Viễn Kiều. Đó là do vào năm 1719, chúa Nguyễn Phúc Chu khi thăm Hội An thấy chùa Cầu đặc biệt nên đặt tên chiếc cầu là Lai Viễn, với ý nghĩa “bạn phương xa đến”. Điểm đặc biệt của ngôi chùa này là trong chùa không thờ Phật mà thờ Bắc Đế Trấn Võ – vị thần bảo hộ xứ sở, ban niềm vui và hạnh phúc cho con người, thể hiện khát vọng thiêng liêng mà con người muốn gửi gắm cùng trời đất nhằm mong cầu mọi điều tốt đẹp.
Cầu có mái che khá độc đáo, ở giữa là lối qua lại kiểu cầu vòng, hai bên có hành lang hẹp để làm nơi nghỉ mát với bảy gian bằng gỗ. Mặt chính của chùa hướng ra bờ sông Hoài thơ mộng. Chùa và cầu đều làm bằng gỗ, sơn son và chạm trổ nhiều họa tiết rất công phu, hài hòa giữa các phong cách kiến trúc Việt, Hoa, Nhật. Hai đầu cầu có tượng thú bằng gỗ đứng chầu, một đầu là tượng chó, một đầu là tượng khỉ. Tương truyền đó là những con vật mà người Nhật sùng bái, thờ tự từ xa xưa (cũng có thể xuất phát từ ý nghĩ cây cầu xây từ năm thân đến năm tuất mới hoàn thành).
Chùa Cầu được công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia năm 1990. Cùng với chức năng điều tiết giao thông, thuận tiện cho việc đi lại của người dân trong khu phố cổ, chùa Cầu còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng có liên quan đến truyền thuyết về việc trấn yểm thủy quái, thủy tai. Chùa Cầu đã trải qua ít nhất sáu lần trùng tu song vẫn giữ được nét cổ kính nguyên thủy của nó. Hình ảnh chùa Cầu có trên tờ tiền 20.000 đồng bằng polymer của Việt Nam.
Miếu thờ tổ nghề gốm Nam Diêu Hội An
Miếu tổ Nam Diêu được dân làng xây dựng vào năm Tự Đức thứ 21(1868) tại ấp Nam Diêu, xã Thanh Hà(nay là khối 5,phường Thanh Hà, thành phố Hội An) để thờ cúng tổ nghề gốm, các bậc tiền hiền và hậu hiền những người có công trong công việc truyền bá và phát triển nghề gốm tại Nam Diêu Thanh Hà, Hội An.

Để tưởng nhớ những bậc tiền nhân cũng như các vị thần bảo hộ cho nghề, vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch hằng năm, nhân dân tổ chức lễ cúng rất linh đình. Cùng với miếu tổ nghề, trong khuôn viên chung còn có các miếu Bạch Mã Thái Giám, miếu Âm linh, miếu Ngũ Hành tiên nương, miếu Sơn tinh Nhị vị được xây dựng vào những thời điểm khác nhau. Đây là những công trình tín ngưỡng không chỉ liên quan đến nghề gốm mà còn gắn liền với đời sống văn hóa tâm linh của cư dân một làng nghề thủ công truyền thống ven sông cận kề cảng thị Hội An.
Nhà cổ Quân Thắng Hội An
Nhà cổ Quân Thắng là một trong những nhà cổ được đánh giá là đẹp nhất Hội An hiện nay. Ngôi nhà có niên đại hơn 150 năm, mang phong cách kiến trúc vùng Hoa Hạ Trung Hoa. Qua năm tháng, ngôi nhà vẫn được bảo tồn khá nguyên trạng về kiểu dáng kiến trúc và các bài trí nội thất, giúp ta hình dung được phần nào lối sống của các thế hệ chủ nhân, những người thuộc tầng lớp thương gia ở thương cảng Hội An trước đây. Được biết, toàn bộ phần kiến trúc và điêu khắc gỗ rất sinh động, tinh tế của ngôi nhà này đều do các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng thực hiện.

Nhà cổ Quân Thắng là một điển hình của loại nhà trệt thông hai mặt đường Trần Phú và Nguyễn Thái Học. Ngôi nhà này là một trong những ngôi nhà cổ nhất trong Đô thị cổ. Bước vào nhà, có thể nhìn thấy nhiều đặc trưng kiến trúc của Hội An. Đó là kiểu vì “kẻ chuyền” trong cấu trúc hệ mái nhà chính, là một không gian nhỏ có mái che nhìn ra sân trời với vì kèo “chồng rường” được trang trí rất đẹp. Đối diện với sân trời là mái vì vỏ cua. Tường bao xung quanh sân trời được trang trí đẹp bằng gốm Trung Quốc, các đồ án trang trí hình các con vật, cảnh vật cùng với hòn non bộ đã biến nơi đây thành một bức tranh tuyệt tác.
Hội quán Quảng Đông Hội An

Hội quán Quảng Đông được Hoa Kiều Quảng Đông xây dựng vào năm 1885, thoạt đầu để thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và Đức Khổng Tử, sau năm 1911 chuyển sang thờ Quan Công và Tiền Hiền. Nghệ thuật sử dụng hài hòa các chất liệu gỗ, đá trong kết cấu chịu lực và họa tiết trang trí đã đem lại cho hội quán vẻ đẹp đường bệ, riêng có. Hiện nay hội quán còn lưu giữ được nhiều hiện vật cổ như: 4 bức hoành phi lớn, 1 lư trầm lớn bằng đồng cao 1,6m rộng 0,6m, 1 cặp đôn sứ men ngọc Trung Quốc… Hàng năm, vào ngày Nguyên Tiêu (15/1 âm lịch) và vía Quan Công (24/6 âm lịch), hội quán lại tổ chức lễ hội rất linh đình, thu hút nhiều người tham gia.
Hội quán Triều Châu Hội An

Hội quán Triều Châu hay còn gọi là chùa Âm Bổn, tọa lạc tại 157 Nguyễn Duy Hiệu. Hội quán Triều Châu được Hoa kiều bang Triều Châu xây dựng vào năm 1845 làm nơi sinh hoạt cộng đồng và tín ngưỡng riêng của người Triều Châu ở Hội An Hội quán thờ các vị thần chế ngự sóng gió, qua đó cầu mong việc đi lại buôn bán trên biển được thuận buồm, xuôi gió. Hội quán là một công trình kiến trúc với bộ khung gỗ chạm trổ tinh xảo, cùng những họa tiết, trang trí bằng gỗ theo các truyền thuyết dân gian và những tác phẩm đắp nổi bằng sành sứ tuyệt đẹp.
Hội quán Phúc Kiến Hội An
Phố cổ Hội An là một di sản văn hoá thế giới. Một trong những di tích văn hóa tại đây là hội quán Phúc Kiến, được xây dựng vào năm 1697 mấy trăm năm trước, để thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và các vị thần bảo hộ về sông nước, tiền của, con cái. Đây là nơi thờ thần, Tiền hiền và hội họp đồng hương của những người Phúc Kiến. Đến tham quan, du khách sẽ chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc độc đáo tráng lệ, được chạm trổ tinh xảo. Hội quán có kiến trúc kiểu chữ “Tam” theo các trật tự: cổng – sân – hồ nước – cây cảnh – hai dãy nhà đông và tây – chính diện – sân sau – và hậu điện.

Chính điện thờ Thiên hậu Thánh Mẫu, Quan Thế Âm Bồ Tát, Thần Tài, 3 bà Chúa sanh thai và 12 bà mụ. Trong chùa còn có nhiều tượng thờ, trống đồng, chuông đồng, lư hương lớn, 14 bức hoành phi và nhiều hiện vật có giá trị khác. Tương truyền, tiền thân của Hội quán là một gian miếu nhỏ thờ pho tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu (bà chúa phù hộ cho thương nhân vượt sóng gió đại dương) vớt được tại bờ biển Hội An vào năm 1697.
Qua nhiều lần trùng tu, với sự đóng góp chủ yếu của Hoa kiều bang Phúc Kiến, hội quán càng trở nên rực rỡ, khang trang góp phần tô điểm diện mạo kiến trúc đô thị cổ Hội An. Thông qua cách bài trí thờ phụng các hình nhân: 6 vị tiền hiền (lục tánh), bà mụ, thần tài … hội quán thể hiện sâu sắc triết lý Á Đông về hạnh phúc con người. Hàng năm, vào các ngày Nguyên Tiêu (15 tháng Giêng âm lịch), Vía Lục Tánh (16 tháng 2 âm lịch), vía Thiên Hậu (23 tháng 3 âm lịch) … tại hội quán Phúc Kiến diễn ra nhiều hoạt động lễ hội thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham gia. Hội quán Phúc Kiến đã được cấp bằng di tích lịch sử – văn hoá quốc gia ngày 17 tháng 2 năm 1990.
Nhà thờ cổ tộc Trần Hội An
Nhà thờ tộc Trần tại số 21 Lê Lợi là một trong những ngôi nhà cổ tại Hội An. Ông Trần Thể Quang là cháu chắt đời thứ 13 và hiện đang trông coi ngôi nhà thờ cổ, kể lại: Cách đây 200 năm, ông sơ của ông – cụ Trần Tứ Nhạc là một vị quan thông minh, rất được vua Gia Long tin dùng.

Cuối năm 1802 vua cử ông và một số người khác đi sứ sang Tàu. Trước khi đi ông đã xây dựng nhà thờ tộc Trần cho con cháu mai sau và cũng để báo hiếu tổ tiên. Hiện nay gia đình vẫn còn giữ gìn hai di vật của ông là kiếm và bộ triện.
Nằm trong khu vườn rộng 1.500 m2 Nhà thờ tộc Trần được bao bọc bằng bờ tường cao cùng cây cối xanh tươi và chịu ảnh hưởng bởi lối kiến trúc Á Đông mang phong cách Nhật Bản, Trung Hoa, ngôi nhà chia làm 2 phần: phần chính để thờ cúng và phần phụ bên cạnh để vị trưởng tộc cũng như khách ở. Giữa gian phòng khách và gian thờ cúng có một ngạch cửa dùng như chướng ngại vật, nhắc nhở mọi người khi vào bên trong phải cúi đầu làm lễ. Phía sau ngôi nhà là mảnh vườn với mô đất cao là nơi để ”chôn nhau cắt rốn” của dòng họ.
Tất cả được xây dựng hài hòa, tuân thủ theo phép phong thủy nghiêm ngặt. Hằng năm, vào một ngày định kỳ, tất cả bà con trong dòng họ đều tụ tập lại cùng nhau hương khói để tỏ lòng biết ơn ông bà, tổ tiên. Sự gặp gỡ hằng năm như thế giúp mối quan hệ giữa các thành viên trong dòng họ ngày càng sâu sắc vì với thời gian, con cháu trong tộc sẽ ngày càng đông hơn cho nên sự củng cố nhà thờ càng thêm cần thiết.
Nhà cổ Phùng Hưng Hội An
Nhà cổ Phùng Hưng – Hội An | Địa chỉ: 4 Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Với tuổi thọ hơn 100 năm, nhà Phùng Hưng có kết cấu độc đáo với phần gác cao bằng gỗ và các hành lang rộng bao quanh, thể hiện sự phát triển về kiến trúc và sự giao lưu giữa các phong cách kiến trúc Á Đông tại Hội An trong các thế kỷ trước đây.

Nhà cổ Phùng Hưng được xây dựng cách đây hơn 100 năm trong thời kỳ phát triển của đô thị Hội An. Chủ nhân đầu tiên của ngôi nhà là người Việt buôn bán phát đạt và giao lưu rộng rãi. Ông đặt tên cho ngôi nhà là Phùng Hưng có nghĩa là Hưng Thịnh với mong muốn gia đình luôn làm ăn phát đạt. Xưa kia đây là tiệm bán các mặt hàng lâm thổ sản như quế, tiêu, muối, các mặt hàng lụa tơ tằm, đồ sứ, thủy tinh…chủ nhân hiện nay là con cháu thuộc thế hệ thứ 8 vẫn còn sống và bảo quản nhà cổ. Đây là một trong những mẫu nhà đẹp nhất của kiến trúc cổ Hội An.
Nhà cổ Diệp Đồng Nguyên Hội An
Nhà cổ Diệp Đồng Nguyên– nơi được nhiều du khách, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước coi như một bảo tàng cổ vật vô giá- luôn mở rộng cửa cho du khách đến xem. Hiện vật cổ bày la liệt mà không có vẻ được bảo vệ, nhưng cũng chưa bao giờ xảy ra chuyện mất mát.

Theo gia phả hiện đang lưu giữ tại nhà Diệp Đồng Nguyên, ông Diệp Ngộ Xuân là người họ Diệp đầu tiên từ Gia Ứng- Quảng Đông (Trung Hoa) sang Hội An vào thời Thanh Hàm Phong (1856). Với nghề thuốc bắc cha truyền con nối, ông tổ đã lập nên cơ ngơi đầu tiên cho dòng họ ở đường Trần Phú (Hội An- Quảng Nam) với tiệm thuốc bắc mang tên Diệp Đồng Xuân.
Về sau, con cái của ông đã gìn giữ cơ nghiệp và phát triển thêm một tiệm nữa tại số nhà 80 Nguyễn Thái Học. Từ tiệm thuốc bắc chuyên buôn bán các loại cao đơn hoàn tán mang tên Nhị Thiên Đường, tiệm dần mở rộng thành đại lý cho hãng dầu lửa Shell, buôn bán lụa là gấm vóc, sách vở cho học sinh, sách quốc ngữ cho bà con Hội An… Đến nay họ Diệp sống ở đây 5 thế hệ. Ngoài buôn bán, người họ Diệp còn có thú sưu tầm đồ cổ và lưu lại cho con cháu đời sau.
Giếng Cổ Bá Lễ Hội An
Ngõ kiệt hút sâu trong phố nhưng nhìn rõ từ đầu này sang đường kia – điểm ấn tượng của kiến trúc đô thị cổ Hội An. Du khách bị hút vào những con kiệt, một chiều sâu văn hoá, có giếng cổ nằm ngay giữa đường hoặc bên một bờ tường thành rêu phong, xiêu đổ.

Đã từ lâu, giếng Bá Lễ không chỉ là nguồn sống cho những gia đình gánh nước thuê mà còn cho hàng trăm hộ dân khác, từ những gánh hàng rong đến những nhà hàng sang trọng. Những món đặc sản của Hội An như cao lầu, mì quảng, xí mà… đều không thể ngon, đúng vị đặc trưng nếu dùng nước giếng khác để chế biến.
Nước giếng Bá Lễ còn dùng để phục vụ du khách. Nhiều người khi đến Hội An đều mong muốn uống một ngụm nước giếng này thử hương vị thế nào. Vì lẽ đó, một gia đình ở đường Nguyễn Thái Học, con đường dẫn vào giếng Bá Lễ trang bị sẵn một chum nước giếng với dòng chữ “Nước giếng dành cho du khách”. “Món đặc sản” này thu hút nhiều du khách, nhất là du khách quốc tế đến thưởng thức.
Theo nhiều người già ở Hội An thì giếng Bá Lễ có từ thời của người Chăm xưa (khoảng từ thế kỷ thứ VIII-IX). Chất liệu làm giếng cổ bằng gạch mà không dùng vôi vữa kết lại. Dưới chân là khung gỗ lim rộng bản, tồn tại cả ngàn năm nay. Không phải giếng bình thường như ở bất kỳ nơi đâu trên đất nước Việt Nam, giếng Chămpa Hội An được xem như một giá trị văn hoá vật thể phản ánh đời sống sinh hoạt của cộng đồng cư dân Chămpa tại đây từ hơn 10 thế kỷ trước.
Qua nhiều nguồn tư liệu cho biết, người Chămpa xưa đào giếng, ngoài việc phục vụ nhu cầu hàng ngày, họ còn trao đổi nước ngọt với các thuyền, tàu buôn nước ngoài đến cảng thị Hội An. Điều kỳ lạ là cho đến hôm nay, người Hội An vẫn sử dụng hầu hết các giếng cổ này vì giếng rất trong, sạch và ngọt. Điều này thể hiện trình độ chọn đất hay sự am hiểu về phong thuỷ rất cao.
Giếng cổ tạo nên nét độc đáo của văn hóa Hội An, là một bộ phận không thể thiếu của di sản văn hóa vật thể. Vào sáng sớm hay chiều tối, những đôi quang gánh hoặc xe ba gác vẫn chở nước toả đi khắp các ngả đường.
Chùa Hải Tạng Hội An
Chùa Hải Tạng là công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng thờ phật kết hợp thờ Thánh Thần nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của cư dân trên đảo và cho thương thuyền các nước ghé vào hành lễ. Chùa được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 19 (1758) ở vị trí cách nơi này khoảng 200m…

Chùa Hải Tạng là công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng thờ phật kết hợp thờ Thánh Thần nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của cư dân trên đảo và cho thương thuyền các nước ghé vào hành lễ. Chùa được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 19 (1758) ở vị trí cách nơi này khoảng 200m về hướng đông bắc, sau vì do bão làm hư hại nặng và để thuận tiện cho các tín đồ đến hành lễ nên vào năm Tự Đức nguyên niên (1848) chùa dời về vị trí hiện nay.
Toàn bộ nếp nhà chính có hệ vì kèo kết cấu kiểu “chồng rường giả thủ”chia làm 3 lòng. Ở mái hiên, dép hoành cách điệu thành hình lồng đèn với thân chạm hình hoa lá, đầu là những cánh sen lật, đỡ thẳng lên đòn tay, dưới chạm nổi hình đầu rồng. Do hiện còn giữ được gần như nguyên trạng kết cấu kiến trúc, mỹ thuật, cách bố trí tượng thờ của thời kỳ Tam Giáo đồng nguyên nên chùa còn là nơi cung cấp các thông tin về nhiều lĩnh vực khoa học, về lịch sử hình thành, phát triển của khối cộng đồng cư dân cù lao chàm và là điểm tham quan du lịch hấp dẫn.
Miếu tổ nghề Yến Hội An
Vị trí Miếu tổ nghề Yến nằm ở thôn Bãi Hương – Hội An.Miếu Tổ nghề yến được xây dựng hoàn chỉnh vào khoảng đầu TK 19 để thờ Tổ nghề yến và các vị thần bảo hộ của nghề. Hàng năm vào ngày 10/3 âm lịch, cư dân và những người làm nghề khai thác yến tổ chức cúng rất linh đình để chuẩn bị …

Miếu Tổ nghề yến được xây dựng hoàn chỉnh vào khoảng đầu TK 19 để thờ Tổ nghề yến và các vị thần bảo hộ của nghề. Hàng năm vào ngày 10/3 âm lịch, cư dân và những người làm nghề khai thác yến tổ chức cúng rất linh đình để chuẩn bị bắt tay vào vụ khai thác mới. Công trình chính gồm 2 nếp nhà nối liền thông với nhau, mái lợp ngói âm dương. Nếp thứ nhất hệ vì kèo cấu tạo theo kiểu chồng rường giả thủ. Nếp thứ hai hệ vì kèo cấu tạo theo kiểu khung cụi chính giữa rồi bắt quyết qua 4 mái.
Trên bàn thờ, ngoài các bài vị của những bậc tiền bối khai sáng nghề yến sào là các vị thần liên quan đến sông biển. Trên tường bên hữu có tấm bia đá ghi công đức của các chư phái tộc và ca tụng vẻ núi non kỳ vĩ của Cù Lao xứ. Miếu thờ Tổ nghề Yến cung cấp nhiều thông tin quý về kiểu thức xây cất và nghệ thuật trang trí đậm đà tính dân gian.
Đình Tiền Hiền Hội An
Đình Tiền Hiền được xây dựng khoảng cuối thế kỷ thứ XVIII, nằm ở Xóm Giữa thuộc thôn Bãi Làng để thờ các bậc tiền hiền, hậu hiền có công lập nên làng xã, đồng thời phối thờ những vị thần phù hộ nhân dân trong cuộc sống thường nhật. Đình được xây dựng theo lối cuốn vòm, lợp ngói âm dương. Bờ nóc trang trí hình “lưỡng long tranh châu”, bờ hồi mềm mại, tạo dáng hoa lá, đuôi cá, mặt rồng,… Không gian nội thất rộng chia làm nhiều nếp, ngăn cách bởi các trụ xây. Trên bệ thờ chính gian giữa có ba bài vị ghi các thần hiệu của Phục Ba Tướng quân và một số thần liên quan đến nghề biển. Theo tài liệu, “Phục Ba Tướng quân” là tước vị do Vua phong tặng cho các Tướng có tài hàng hải hoặc giỏi chinh phục sóng gió.

Hiện nay Đình Tiền Hiền là nơi cung cấp nhiều thông tin quý cho việc nghiên cứu quá trình định cư, khai hoang khẩn hóa, ổn định cuộc sống và làm sáng tỏ tập tục tôn giáo tín ngưỡng của cư dân trên đảo Cù Lao Chàm xưa. Di tích này đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích quốc gia ngày 13 tháng 12 năm 2006 theo Quyết định số 96/2006/QĐ-BVHTT.
Chùa Ông Hội An
Chùa Ông, ở số 24 đường Trần Phú còn được gọi là Quan Công miếu, tên chữ là Trừng Hán Cung được người Minh Hương định cư tại Hội An và người Việt xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ 17, thờ vị tướng tài ba thời Tam Quốc là Quan Vân Trường (Quan Vũ), nhằm kính ngưỡng, ca tụng, tán dương lòng nghĩa khí, tiết trung liệt của Ông.

Toàn thể Chùa Ông gồm 4 tòa nhà, một tiền đình, 2 tả, hữu vu và một chính diện rộng. Bốn tòa cất xây theo kiểu chữ khẩu và kiến trúc, cấu trúc theo kiểu chồng tránh, ngói lợp và nóc rất độc đáo, trang trí Rồng, Giao. Chính điện đặt pho tượng Quan Vân Trường tướng quân, mặc thanh bào thêu rồng nổi kim tuyến, nét mặt oai nghiêm tươi sáng, đôi mắt sắc mà lung linh nhìn về phía trước.Chính điện còn có 2 pho tượng Châu Thương, người nô tì dũng cảm, trung thành của Quan Công và tượng Quan Bình nghĩa tử; 2 con ngựa thờ cao bằng ngựa thật, bên tả là con ngựa trắng, bên hữu ngựa xích thố – con ngựa mà Vân Trường rất quý khi được Tào Tháo ban cho. Đứng trước những pho tượng này khách thưởng lãm không thể không ngợi khen bàn tay tinh xảo tỉ mỉ của người thợ tạo hình từ xa xưa.
Hiện nay, trong miếu còn rất nhiều biển liễn, hoành phi, sắc phong, bia đá và những hiện vật cổ, đặc biệt là còn lưu lại bài thơ đề vịnh của Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm ( thân phụ của Đại thi hào Nguyễn Du) xướng và 2 bài họa của Uông Sĩ Cư và Nguyễn Lệnh Tân và bài ngụ ngôn cổ phong của Nguyễn Nghiễm. Mấy bài này làm vào năm 1775, lúc Xuân Quận Công phụng chức tả tướng quân Bình Nam vào đóng quân ở Hội An. Đó là một di tích lịch sử lưu dấu vết xa xưa trong thời phân tranh Trịnh- Nguyễn còn lại ở xứ Đàng Trong từ thế kỷ 18 còn đến ngày nay.
Quan Công Miếu đã được cấp bằng Di tích Lịch sử – Văn hóa quốc gia ngày 29 tháng 11 năm 1991.
Lăng Ông Ngư Hội An
Vị trí Lăng Ông Ngư nằm ở thôn Bãi Làng – Hội An.Người dân biển Cù Lao Chàm tôn thờ Cá Ông bởi tương truyền họ luôn được Cá Ông cứu giúp khi gặp hoạn nạn trên biển. Nhà nước phong kiến xưa đã nhiều lần sắc phong và gia tặng các mỹ tự với ý nghĩa tôn vinh, đồng thời cho lập lăng thờ, cấp đất hương hoả tạo điều kiện thuận lợi …

Người dân biển Cù Lao Chàm tôn thờ Cá Ông bởi tương truyền họ luôn được Cá Ông cứu giúp khi gặp hoạn nạn trên biển. Nhà nước phong kiến xưa đã nhiều lần sắc phong và gia tặng các mỹ tự với ý nghĩa tôn vinh, đồng thời cho lập lăng thờ, cấp đất hương hoả tạo điều kiện thuận lợi cho việc thờ cúng của ngư dân.
Lăng Ông được xây dựng vào cuối TK 19 nằm giữa khu dân cư. Lăng kiến tạo theo kiến trúc truyền thống với kiểu mái cuốn vòm thấp, sau có hậu tẩm. Mái lợp ngói âm dương, trên các bờ mái trang trí đề tài tứ linh, chim phượng, quy thư. Trước sân có bình phong đắp hình tượng Thần Ngư hí nguyệt. Nội thất gồm hai nếp ba gian. Gian giữa gắn liền với hậu tẩm, là nơi đặt các hòm xương Cá Ông. Trước hậu tẩm có án thờ bằng gạch. Hai gian bên là nơi thờ tả hữu ban và các vị thần phò tá. Đây là di tích không những phản ánh tín ngưỡng của cư dân làm nghề biển mà còn cho thấy sự phong phú về sắc thái văn hoá của nhân dân vùng đảo Cù Lao Chàm.
Hội An – một viên ngọc quý giữa lòng di sản văn hóa Việt Nam, níu chân du khách bởi vẻ đẹp cổ kính, bình yên và những giá trị văn hóa độc đáo. Nơi đây không chỉ là điểm đến lý tưởng để du khách khám phá lịch sử, văn hóa mà còn là chốn bình yên để thư giãn tâm hồn, tận hưởng bầu không khí trong lành và hòa mình vào nhịp sống dung dị của người dân địa phương. Hội An mãi là điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước, là niềm tự hào của người dân Quảng Nam và là di sản văn hóa vô giá của Việt Nam.
